THƯ MỤC CƠ SỞ

TIN TỨC GIÁO DỤC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Tiếng Việt là ngôn ngữ của tất cả chúng ta!

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > BÀI VIẾT CÁ NHÂN >

    THỬ NHÌN “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC

    I./ Khái niệm thi pháp và sự tiếp cận tác phẩm từ góc độ thi pháp: 

    untitledBất cứ một nội dung nào cũng mang một hình thức thể hiện của nó. Hegel cho rằng “Nội dung không phải là cái gì khác ngoài sự chuyển hóa từ hình thức mà hình thức cũng không phải là cái gì khác ngoài sự chuyển hóa từ nội dung”. Các ngành nghệ thuật cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy. Nói cho cùng thì văn chương cũng có một hình thức thể hiện riêng của nó. Mấy ngàn năm qua, người ta không biết đến thi pháp (theo cái nghĩa bây giờ) văn học vẫn tồn tại với những đặc trưng của nó.

    Thi pháp xét ở góc độ nghĩa đen là cách thức (hay nguyên tắc) làm thơ. Xét về mặt lịch sử, nó không chỉ được hiểu ở phạm vi nghĩa hẹp mà mở rộng bao gồm cả văn chương nghệ thuật nói chung (truyện ngắn, tiểu thuyết, …).

    Người ta thường phân tích khái niệm thi pháp học ở hai khía cạnh khoa học:

    + Thi pháp: Bao hàm các nguyên tắc, cách thức nhằm sáng tạo hay tiếp cận tác phẩm văn chương từ góc độ hình thức nghệ thuật. Nghĩa là thi pháp tập trung nghiên cứu hình thức cấu trúc bên trong làm lộ ra nội dung. Một thứ hình thức mang tính quan niệm, quan niệm nghệ thuật về con người, các thuộc tính nghệ thuật khác. Đương nhiên, là trong sự tương quan với các giá trị nhân bản khác như mỹ học, triết học, văn hóa …  

    + Thi pháp học: bao hàm các nguyên lí tiền đề của thi pháp. Là môn nghiên cứu về thi pháp nói chung như một ngành khoa học cơ bản.  

    Tóm lại, thi pháp xét trong khái niệm khoa nghiên cứu văn học là nghiên cứu văn chương từ góc độ hình thức nghệ thuật của nó.

    Thực ra, thi pháp học không mới. Từ năm 384 với “Nghệ thuật thi ca” Aristote đã khai sinh ra nó ở phương Tây. Và ở phương Đông cũng đã có những tác phẩm nghiên cứu về hình thức, cái lí của thơ ca như: “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp, hay “Tùy viên thi thoại” của Viên Mai … Với khá nhiều những nguyên lí cơ bản có thể xem là nên móng của thi pháp học và phát triển trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.

    Tuy nhiên cũng cần xác định rằng; cho dù không có Aristote thì thi pháp vẫn cứ mặc nhiên tồn tại; bởi vì, thi pháp luôn gắn văn học mà văn học thì luôn tồn tại. Đến nay, thi pháp không đơn thuần được hiểu như những nguyên lý làm thơ, làm văn mà nó bao hàm chi phối nhiều mặt của văn chương; từ lí luận nghiên cứu, thẩm định, tiếp nhận mà ngay cả phê bình văn học cũng phải tiếp nhận những nguyên lí của thi pháp học.  

    Khi văn học đã thực sự phát triển thì không chỉ bản thân nó mà kéo theo hàng loạt những biến chuyển khác về lí luận, phê bình, khảo cứu … Kể cả khoa văn học. Nói cho cùng, thì các nhà văn vẫn là những người tiên phong trong công cuộc đi tìm cái mới. Lâu nay, văn học Việt Nam vốn vẫn cái lối tầm tầm theo những chủ đề “Chiến tranh” và “Xây dựng”. Và nghiên cứu văn học cũng theo cái lối ấy. Đôi khi, là tìm hiểu văn học theo tính võ đoán của ngôn ngữ suy luận hoặc sử dụng các cơ sở lí luận trong mối quan hệ với các ngành khoa học xã hội khác, mà hệ quả là người ta vẫn đánh giá tác phẩm theo cái kiểu “Nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”. Để rồi khen tác phẩm này là chân thực, nghĩa là nó đã chạm được vào cái chân lí nghệ thuật. Nhưng, nghệ thuật tồn tại là vì “cái lí” của nó; đôi khi là những điều phi lí so với cuộc sống. Nếu nghiên cứu văn học là “cuộc sống” thì văn học không thể còn là văn học.

    Thi pháp có lẽ là một cách thức để tìm hiểu và thẩm định giá trị của một tác phẩm văn học.

    Bởi vì, khi xem xét văn chương ở góc độ hình thức kết cấu hệ thống của nó, thi pháp thật sự xem văn học là những tác phẩm nghệ thuật mang tính đặc thù; là nó chứ không phải là một cái gì khác: lịch sử, chính trị, văn hóa, hay xã hội, … và còn muôn vàn những cái khác. Người ta vẫn có thói quen quan niệm văn chương là tất cả, là yếu tố bao trùm của những phân ngành xã hội. Cứ tưởng, khi đồng hóa văn chương với những phân môn xã hội khác sẽ đem đến cho văn chương nhiều hơn, những giá trị thực dụng và thẩm mỹ. Nhưng liệu có đúng không khi cách hiểu ấy vô tình hay hữu ý đã đem nô lệ văn chương cho các ngành khoa học (Chứ không phải là văn học), thì thử hỏi giá trị văn chương có còn phải là những giá trị văn chương? Không thể gán ghép văn chương với những giá trị mà chúng không tự có.

    Vậy cứ xem văn chương là văn chương; văn chương sẽ nhẹ nhàng hơn và chỉ có như vậy văn chương mới đủ lực cất cánh với những giá trị thực của nó.  

    Thi pháp học ít nhiều sẽ làm được đều đó.

    II./ “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), thử nhìn từ góc độ thi pháp: 

    1./ Vài nét về tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh:

    “Nỗi buồn chiến tranh” ra đời vào khoảng những năm 90, và là một trong ba tác phẩm tiểu thuyết (cùng với “Mãnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Ăn mày dĩ vãng” của Chu Lai) được giải thưởng văn học 1996. Ba tác phẩm đều lấy bối cảnh Việt Nam sau chiến tranh và tác phẩm của Bảo Ninh không chỉ có thế.

    Từ khi ra đời, tác phẩm đã gây ra sự phản ứng dữ dội từ giới tiếp nhận. Thông thường thì người ta hay căn cứ vào nội dung tư tưởng hay nội dung nghệ thuật để thẩm định giá trị của một tác phẩm văn học. Nhưng “Nỗi buồn chiến tranh” là một tác phẩm mới.

    Cái mới không bắt đầu từ cái mốc thời gian và sự ra đời của nó; khi mà những tác phẩm thời kì hậu chiến bắt đầu đề cập đến nỗi đau hay số phận con người sau chiến tranh như “Cỏ Lau” của Nguyễn Minh Châu; “Bến không chồng” của Dương Hướng hay hơn nữa có lẽ kể đến “Người còn sót lại của rừng cười”... Cái mới bắt đầu từ giá trị kinh điển của những tác phẩm thời chiến, mà nó đã đang tâm phá vở… Từ đề tài, những hình mẫu nhân vật, các thủ pháp cho đến điểm nhìn, góc nhìn về cuộc chiến… Tất cả, hình như thấm nhuần những giá trị tư tưởng và nghệ thuật theo đúng cái nghĩa đích thực của văn học. Để từ đó, người ta chán ngấy thứ văn chương minh hoạ, thích tô hồng cái man rợ của chiến tranh để ca ngợi lịch sử và đậm chất chính trị.

    Có lẽ vì vậy, mà nó trở nên mới. Mới là vì nó đã dám làm mới, dám lạ hoá những cái cứ tưởng chừng như đã cũ.

    “Nỗi buồn chiến tranh” là một trong vài cuốn tiểu thuyết đầu tiên ra đời trong thời kì hậu chiến tranh ở Việt Nam. Cục diện khi những người lính đã trở về với cuộc sống đời thường và hồi tưởng về quá khứ. Kiên nhân vật chính của tác phẩm là một trong những con người đó. Đề tài mà Bảo Ninh chọn lựa không mới. Đó là đề tài về tình yêu trong bối cảnh của trong và sau cuộc chiến tranh. Một đề tài khá cũ. Cái lạ (hay cái mới) là Bảo Ninh đã biết khéo léo xử lí nguồn đề tài khá cũ ấy. Như ông Đỗ Đức Hiểu nói “Cuốn tiểu thuyết tình yêu thương xót nhất”.

    Nhưng theo “Tôi”, “Nỗi buồn chiến tranh” phải là một cuốn tiểu thuyết hay viết về chiến tranh.

    Như Kiên- nhân vật chính trong truyện- “Người ta sinh ra không phải là để làm lính”, đó là điều bi thảm nhất mà những thanh niên như Kiên phải gánh chịu khi đang tuổi thanh xuân, đang yêu hay chưa hề biết yêu. Có lẽ, vì thế mà tác phẩm đi lí giải những nghịch lí lạ lùng của một cuộc chơi được trả giá bằng mạng người. Chiến tranh là sự mất mát, hẳn nhiên là như vậy! Nhưng cái mất nào là lớn nhất? Tài sản? Mạng sống? Tình yêu? “Con người”? Hay một thứ nào khác mà người ta chưa kịp thống kê? Những thế lực đen tối tạo ra chiến tranh và chúng phải chịu những hậu quả thảm khốc là một điều tất nhiên. Nhưng người chiến thắng cũng không phải chỉ có vinh quang và chiến thắng.

     “Nỗi buồn chiến tranh” là một nỗi buồn, hẳn nhiên cũng là như vậy! Như Bảo Ninh Viết: “Chúng tôi có chung một nỗi buồn, nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ”.

    2./ Nhân vật hay “Con người” trong “Nỗi buồn chiến tranh”:

    Nói “Thân phận tình yêu” (một tên khác của Nỗi buồn chiến tranh) hay “Nỗi buồn chiến tranh” đều đúng. Bởi vì, trong sự sóng đôi của nhiều yếu tố để tạo nên một kết cấu đa tuyến trong thể hiện và sự đa chiều trong sự tiếp nhận

    Cái độc đáo của tác phẩm chắc phải kể đến bắt đầu từ nhân vật. Đọc truyện đôi khi ta có cảm giác, hình như nó là một chuổi lôgíc các truyện ngắn được xâu lại một cách khéo léo bằng một sợi dây vô hình, ở đâu thì ta khó thấy nhưng nó thực sự hiện hữu đâu đó trong những chi tiết, tình tiết… Mặc dù, theo Kiên (Nhân vật trong tác phẩm) tác phẩm miêu tả trọn vẹn nỗi “đau buồn là một thể nguyên khối suốt cuộc đời, liền một mạch từ thời thơ ấu, qua chiến tranh đến tự bây giờ”. Là cuộc đời của Kiên; nhưng hãy nhìn quá thêm một chút, ta sẽ dễ dàng nhìn thấy rằng, hình như có một sự gián ghép nào đó từ những mảng đời của một quá khứ đã qua ngót hai mươi năm được hồi nhớ không thể trọn vẹn, trộn lẫn với hiện tại. Có hiện thực, có mơ hồ … Tất cả được đổ ra, sắp xếp lại theo một trật tự tương đối. Nhưng cũng đủ để tạo nên một “nhân vật Kiên” đa sắc diện trong biểu hiện.

    Nếu nói tác phẩm là quá khứ, thì đó là một tổng thể những quá khứ được đồng hiện. Và hẳn nhiên, “Kiên” là yếu tố đóng vai trò mạch nối cho hàng loạt những nhân vật cùng xuất hiện trong tác phẩm; là nhạc trưởng cho sự hòa âm tuyệt diệu của những giọng nói đa thanh, những mãnh đời lăn lóc, chịu đựng cái khủng khiếp của không gian, sự bạc nhược của thời gian. Sự hồi nhớ như một ám ảnh không thể quên của quá khứ trong cái hiện tại còn khủng khiếp hơn gấp trăm lần. Bởi lẽ, người ta không còn hi vọng đến “cái chết” như một sự giải thoát. Hóa ra, đôi khi cái chết không phải là điều khủng khiếp nhất mà con người phải chịu. “Sống” để chịu đựng trăm ngàn những vết tử thương hay “Chết” như một giất ngủ mà không biết giất mơ nào sẽ tới. Câu hỏi của Hamlet đã mấy trăm năm qua, ở cái thời phục hưng đến nay vẫn không hề vô lí. Chết mà biết mình chết cho một lí tưởng nào đó cao đẹp thì có nặng nề gì. Bảo Ninh không để cho nhân vật của mình như thế “một cuộc đấu tranh” để ngã về cái chết; dù nhiều lần Nhân vật Kiên đã nghĩ đến việc “đào ngũ” khỏi cuộc đời bằng cái chết anh hùng.

    Kiên, cái “nhà văn của phường” hay Bảo Ninh mới thực sự là người tạo nên mạch sống cho toàn bộ tác phẩm?

    Là con người trung tâm của cuộc chiến, Kiên được đặt ở nhiều vị trí thời gian, không gian và từng đơn vị khác nhau trong cuộc chiến đó. Từ vị trí của một anh lính trinh sát bộ binh, cho đến vi trí của anh lính xe tăng, đối mặt nhiều với cái sống, cái chết. Từ những buổi đầu nhập ngũ tò te lính mới cho đến ngày thống nhất đất nước, chứng kiến không biết bao nhiêu cái chết của của bạn bè, đồng đội. Từ núi rừng Trường Sơn mà thiên nhiên hoang dã như con người cho đến khi tiến vào giải phóng Sài Gòn. Nghĩa là, Kiên hội đủ những điều kiện để thấy được tất cả cái diện mạo của cuộc chiến tranh tàn khốc ấy. Nhận ra được thực chất của những lí tưởng cao đẹp và hiện thực thấp hèn. Nhận ra cái giả dối của đời người…. Mà tất cả, hình như không có sự ràng rịt lôgic nào, ngoài cái cốt truyện cũng hết sức mơ hồ.

    Kiên thuộc típ những nhân vật bệnh lí. Trong anh đôi khi không phân biệt nỗi đâu là “hiện thực” đâu là “ảo giác”. Bản thân mang nhiều chứng bệnh quái dị và không thể hoà nhập với cộng đồng, một kiểu “Hội chứng sau chiến tranh”. Nó biểu hiện ngay khi lái xe ngoài đường. Theo trực giác của người lính lái xe tăng, anh chỉ trực tong vào người đi đường, tiêu diệt như tiêu diệt kẻ thù. Nó biểu hiện ngay khi ngồi trên những chiếc xe bánh cao su mềm mại, bất giác cứ có cảm giác đang đè nghiến trên những xác người êm êm và rùng rợn. Sống giữa vô thức và hữu thức; lằn ranh mong manh cứ trực ngã nghiêng, đẩy anh về với quá khứ trộn lẫn nhiều thứ lam nham từ hiện tại để vừa đủ vẽ ra một diện mạo mơ hồ và sợ hãi; Anh rơi vào sự hoảng loạn rượu chè, bê tha và bị đuổi viêc…

    Chiến tranh đã đem lại cho anh nhiều thói quen chết người. Huỷ hoại hết thảy những giá trị đẹp đẽ của một Kiên 17 tuổi nhân cách và đáng trọng. Đấy là cái bi kịch của ngần ấy năm trời sống trong thói man rợ và thú tính, những người lính như anh cay đắng nhận ra rằng “Chả bao giờ trở lại thành người được nữa”, không thể làm lại bất cứ một cái gì trên cái vùng kí ức đầy ngoặc những vết xóa. Nó bắt người ta phải tin vào một sự thật rằng: Những con người trở về sau cuộc chiến không chỉ mang theo những vết thương bấy bá trên nhân hình, mà còn tàn phế, méo mó, dị dạng đến cả nhân tính. Cái nguy cơ là còn lăm le đẩy cả con người vào hàng con vật nữa.

    Chiến tranh đâu chỉ cướp đi tình yêu, tuổi thanh xuân mà còn dày xéo lên hết thảy tâm hồn.

     3./  Chủ đề “tình yêu” hay thân phận tình yêu trong “Nỗi buồn chiến tranh”:

    Không thể không có tình yêu trong chiến tranh. Hẳn nhiên, là như vậy. Bởi vì, Nó giống như một thứ công thức truyền thống của tiểu thuyết.

    Tác phẩm phát triển mạch truyện dựa trên mối tình thật đẹp giữa Kiên và phương. Tình yêu ấy đã đi theo Kiên suốt cả cuộc chiến tranh, và cả năm tháng sau khi hòa bình lặp lại. Nó là niềm hi vọng, là tất cả trong cái cuối cùng của cuộc đời anh. Nó trong suốt, rực cháy, là những gì trìu mến và thân thương nhất. Nhưng chưa bao giờ nó là hạnh phúc. Sự ra đi của Phương ở cuối tác phẩm có lẽ là một thứ kết cấu bỏ ngỏ như thường thấy trong loại tiểu thuyết hiện đại; nhưng không hẳn như thế. Đó là cách tốt nhất để giữ lại điều đẹp nhất, lãng mạn nhất mà giờ chỉ còn là kỉ vật vô tri, vô hình và vô dạng, và mất giá trong thời kinh tế thị trường… Nghĩa là nó vượt lên trên những cái lí tầm thường của cuộc đời thường để trở thành đẹp một cách lí tưởng. Để bây giờ, Phương sẽ mãi “Vĩnh viễn ở ngoài thời gian, vĩnh viễn trong trắng”. Vĩnh viễn trong tâm thức của Kiên.

    Tình yêu là một thứ bi kịch lớn lao kéo theo sự đổ vỡ của nhiều thứ.

    Bi kịch từ ngay khi anh bắt đầu tham gia cuộc chiến. Trên chuyến tàu vào Nam, trong ánh chớp loé lên, anh chứng kiến Phương, người yêu anh bị hảm hiếp bởi chính những người đồng đội.

    Bi kịch từ ngay khi anh từ chiến trường trở về và chứng kiến cảnh Phương phải làm điếm để kiếm sống ngay cạnh phòng anh.

    Bi kich từ khi anh phải mang vết thương thầm kín từ trong cuộc chiến trở về buộc anh phải từ bỏ tình yêu của chính bản thân trong sự thèm khát và bất lực.

    Tất cả là sự đổ vỡ. Bi kịch không phải chỉ là bi kịch cá nhân của Kiên. Cả Phương cũng thế. Bằng những linh cảm của một người con gái, cô đã hình như nhận ra nỗi bất hạnh khủng khiếp đang đến gần. Trong khi những thanh niên hăm hở, say mê đi vào cuộc chiến tranh, cô đã hiểu rằng “đã mất hết”, rằng “trên thế giới này, từ nay, ngọn gió phủ phàng nào sẽ thổi”.

    Lẽ ra, thì còn có thể kể thêm một vài mối tình trong tác phẩm ví như mối tình tập thể giữa những anh lính trinh sát và những cô gái coi kho. Nhưng có điều có thể xem đấy là tình yêu hay không? Có lẽ, chỉ nhít nhót một chút là sự biến tướng của một thứ tình người. Giống như triết lí đã trở thành bản năng của những người lính “Chết cho đồng đội mình được sống”. Họ chia sẻ tình yêu như chia sẻ vài giọt nước cho cái cổ họng cháy khát, cho cái chết sẽ diễn ra ngày mai. Thôi thì cũng là tình yêu vậy thôi? Bảo Ninh không hề đặt “chiến tranh” như là một yếu tố đối lập với “tình yêu” để ca ngợi tình yêu hay lên án sự tàn khốc của cuộc chiến tranh; như văn học trước đó đã từng làm. Ở đây, tình yêu cũng có một thân phận, cũng là một nạn nhân hiện hữu. Ở đó, không hề tồn tại thứ tình yêu mang tầm vóc và dáng dấp của sử thi. Nó bị lôi tuột xuống ngang tầm với tính dục. Vì thế mà trong tác phẩm tồn tại khá nhiều những kiểu “quan hệ”…

    Phải, tình yêu là thứ xa xỉ, đắt hàng mà người lính không có được; một “khái niệm” rỗng toét và vô nghĩa. Họ chạy theo tiếng gọi của bản năng, chạy rong trong rừng rú tìm kiếm, đổi chác những món hàng sinh lí, những kiểu “thoả mãn”, những kiểu quan hệ nam nữ nhưng tuyệt nhiên chỉ hao hao giống tình yêu thế thôi; không thể là tình yêu. Bởi vì, ở đó còn có cả sự nhường nhịn, chia sẻ… Nó là thứ “lương thực” cho sự đói khát thì đúng hơn. Trong bối cảnh túng thiếu, nghiện ngập, ảo giác … Họ hình như không còn phân biệt nổi nữa: Đâu là con người tồn tại trong cái nghĩa “Con người”?

    Có lẽ vì thế mà “Tình yêu” trong tác phẩm cũng là một thứ nhân vật; là một thứ chi tiết; một yếu tố nhằm thể hiện. Mang đúng màu sắc và cũng tàn bạo như cuộc chiến tranh.

    Vì thế, mà tác phẩm đạt đến độ chân thực đến đáng sợ.

     4./ Chủ đề chiến tranh hay “chiến tranh” trong “Nỗi buồn chiến tranh”:

    Chiến tranh trong “Nỗi buồn chiến tranh” có lẽ bắt đầu từ cái không gian nghệ thuật được vẽ ra ngắt quảng trên một địa bàn rất rộng. Là mạch sống đầu tiên của toàn bộ của tác phẩm; nơi chuyển tải và là môi trường hoạt động của các nhân vật cùng toàn bộ các sự kiện của nó. Những thảm cảnh bên bờ sông Sa Thầy hay ở Đắc Tô. Cái chết là sự mở đầu cho câu chuyện được kể lại… Không thể bằng được với những bộ phim truyền hình được dựng lên tinh xảo, trực quan và tốn kém. Nhưng cái âm hưởng mà nó để lại bên trong người đọc để họ tự hồi tưởng, mường tượng mới thật sự là ấn tượng mà nó mang tới. Là cái rùng rợn và đáng sợ.

    Trước hết, là không gian đáng sợ của một cuộc chiến trên bình diện đối kháng lẫn tâm thức. Nó xô đẩy con người vào một chiến tranh còn dữ dội hơn ngay trong chính bản thân của những người lính: Bên trong và bên ngoài, cái sống và cái chết; con người và thú tính; … Những đối cực đáng sợ của một đời con người. Nó đặt con người vào giữa hai chiến tuyến: Đối mặt với kẻ thù, đối mặt với bản thân; chiến đấu để bảo vệ nhân tính và chất người trong mỗi bản thân “Con người”. 

    Cái đáng sợ bắt đầu một không gian; trong cái hiện thực huyền hoặc, huyển tưởng của khu rừng ma. Với những tiếng cười khanh khách vọng lên từ những con người lẽ loi, còn xót lại hay vọng ra từ vô thức. Với những con người trần truồng chập chờn như những bóng ma lẫn khuất, thoát ẩn hiện dưới ánh chớp trong đêm mưa rừng tầm tả. Những bông hồng ma như một thứ á phiện hút máu của kẻ thù, của đồng đội đỏ thắm sau những trận đánh ngập ngụa xác chết; ngát hương tạo nên những cơn ảo giác vinh quang và tình dục, những cơn nghiện ngập chiến tranh để tìm kiếm vinh quang và giết chóc… Tất cả trộn lẫn trong một thủ pháp gần như mang tính độc thoại nội tâm từ những bản thể con người.

    Cái đáng sợ nữa hiện ra trong bối cảnh được xây dựng, lắp ghép, đồng hiện, phối cảnh giữa cái tổng thể của một không gian chiến tranh rùng rợn trên tầm vĩ mô, một “chân trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô tựa sóng cồn” với những cá thể, những nấm mồ cho những “thằng Người”, lần lược ngã xuống và cuộc chiến xảy ra ngay bên trong nội tâm của mỗi người lính, ở cả hai chiến tuyến; sự day dứt gữa cái thiện và cái ác; sự dằn xé khi cái lí buộc phải bóp cò cho sự tồn tại, phải quên đi lí lẽ của trái tim. Nếu không thì chắc phải “điên lên vì khiếp sợ”. Nó đẩy con người về gần hơn tới cái giới hạn thảm thiết của giá trị con người. Như một cuộc đấu tranh sinh tồn của loài “thú dữ” trong cuộc chiến tranh “Nhân mãn”. Tàn sát mạng sống của đồng loại đồng nghĩa với sự tàn sát “nhân tính” của bản thân; sự cùn mằn của lí tưởng và cái đẹp và giá trị con người đang giẩy chết…

    Thế mà sau một trận đánh dữ dội, giật mình là tiếng gọi thảm thiết của Phán khi đi tìm thằng lính ngụy bi thương, bị bỏ rơi trong rừng “Ngụy ơi! Ngụy ơi, mày ở đâu?” là một trong những trường đoạn thấm đẫm tình người. Là trường đoạn hay nhất và cũng đau buồn nhất của tác phẩm.

    Rồi qua tất cả, bổng chốc con người dễ dàng đối chiếu, dễ dàng nhận ra cái hiện thực khủng khiếp của cuộc chiến, của chính con người trong cuộc sống con người.

    Văn học là sự tái hiện - Dù biết rằng chỉ một vài phần trăm của tiểu thuyết là sự thật; nó có thể sai - nhưng hãy hiểu như thế. Có người cho rằng tác phẩm văn học có giá trị hiện thực là tác phẩm phản ánh chân thực và chuyển tải đầy đủ nhất sự thật của cuộc sống. Không phải thế! Sự thật phải cay đắng hơn gấp trăm ngàn lần những hồi ức kia. Giống như khi nỗi buồn đau nhỏ nhoi trong cuộc đời của mỗi chúng ta khi người yêu đi lấy chồng; để rồi một thời gian sau ta hạnh phúc nhìn lại nỗi đau khổ như một thứ kỉ niệm. Kỉ niệm ấy đôi khi còn ngọt ngào nữa chứ. Bảo Ninh viết “Nỗi buồn chiến tranh” không phải là sự sám hối. Kiên chấp nhận nó, chấp nhận chiến tranh như một sự đương nhiên, vì “Ta” là chính nghĩa, là chân lí. Chiến tranh không phải là thần chết mà là một con vật say máu người. Và những con người trong nó quay cuồng trong sự giết chóc. không phân biệt, họ cùng chứng kiến cho sự thoái vị của “nhân tính” và đăng quang cho ngôi vị cho “bản năng” của những chiếc máy giết người.

    Cái chân thực và hợp lí của tác phẩm là ở chỗ đó.

    5./ Cái nhìn hay góc nhìn của Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh”: 

    Khi đặt vấn đề trung tâm của tác phẩm là số phận con người trong và sau chiến tranh, Bảo Ninh đã nhìn nó tại một điểm nhìn rất khác, xa lạ với cái nhìn truyền thống của một giai đoạn văn học vốn mang nặng tính minh hoạ, mà những nhân vật là những con người chính trị, đậm chất lí tưởng.

    “Con người” trong tiểu thuyết của Bảo Ninh là con người chân thực được nhìn từ ngay trong cuộc chiến tranh, ngay trong cuộc sống bản năng. Con người mà ngay trong  hoàn cảnh, người ta buộc phải quên đi tính người cho sự tồn tại; thứ “Con người bản năng”, “Con người của những đối cực” tàn khốc. Lẽ ra, thì Kiên có một cuộc sống, một hạnh kiểm “tốt”, vì một lẽ rất đơn giản: anh bình thường như bao nhiêu con người bình thường khác. Nếu nói Kiên “Tha hóa” từ hoàn cảnh, môi trường sống (Cuộc chiến tranh), thì với bản chất và phẩm chất tốt đẹp vốn có của mình, dễ dàng tạo ra sự “phản tỉnh” để trở về cuộc sống đời thường; nếu không là sự vô lí; mà tác phẩm cũng tắt tịt và bí lối trong thể hiện. Kiên không hề như thế. Có lẽ Kiên thuộc loại “người công nghiệp”; dù là công nghiệp chiến tranh. Người ta đào tạo những bộ máy giết người như thời đại của “Kẻ hủy diệt”, để rồi đòi hỏi ở nó một thứ nhân tính. Những người lính sinh ra không phải để làm lính. Lại càng không phải là cái máy, để người ta lập trình rồi xóa đi những vùng kí ức đen tối của nó. Tác phẩm không chỉ đưa ra thông điệp về một cách nhìn mới, rất lạ và cũng rất chân thực về “Con người” và cuộc chiến tranh. Nó không chỉ nói với chúng ta rằng: Chiến tranh đã thực sự đem đến cái gì cho con người? Mà nó còn phá vở toàn bộ các quan niệm cũ kỉ của giai đoạn văn học thời chiến, bắt các nhà văn phải nhìn lại toàn bộ những gì mình đã viết. Rằng liệu chúng đã thật sự chân thực và đã toàn diện chưa?!...

    Trong tác phẩm, Bảo Ninh hình như tái hiện lại một cuộc chiến tranh rất riêng, mà đôi lúc ta không thể nhận ra được diện mạo của nó trong cuộc chiến tranh chung của dân tộc. Hình như ông không đề cập đến những chân giá trị lịch sử mà chỉ xem lịch sử như cái cớ để thể hiện những suy tưởng riêng tư về mặt trái của cuộc chiến tranh không phân biệt “Ta” và “Địch”. Nói cho cùng, là thiên hướng về mặt con người. Thiên cưỡng về phía tiêu cực vậy mà cuộc chiến tranh ấy vẫn hiện lên rõ ràng với một diện mạo khá hoàn chỉnh; rất riêng của nó. Nó không thể chân thực như lịch sử là một điều tất nhiên; bởi vì, nó là một tác phẩm nghệ thuật.  

    Có người cho rằng Kiên là sự hiện thân của Bảo Ninh trong tác phẩm. Có cái đúng, Bảo Ninh cũng từng là một người “Lính”, cũng đã sống và chiến đấu. Một phần trăm nào đó cuộc đời tác giả được đổ vào trong tác phẩm và đồng hóa với nhân vật; thiết nghĩ cũng là chuyện bình thường. Nhưng Kiên có phải là Bảo Ninh không thì còn phải xét lại.

    “Nỗi buồn chiến tranh” không phải là một tác phẩm tự truyện, càng không phải là một cuốn nhật kí, hồi kí hay đại khái, đại loại là như thế. Nhưng Bảo Ninh hay Kiên có những điểm giống nhau kì lạ. Cùng là nhà văn, và trở thành người lính từ ngay khi rời ghế nhà trường. Cùng đi qua chiến tranh và cùng hồi tưởng. Cái mạch lôgíc này thiết nghĩ không nên bỏ qua để hãy tự so sánh một chút xem. Bảo Ninh viết tác phẩm nhằm mục đích gì và cả “Kiên” nữa?

    Nhưng thôi, xin hãy bỏ ngõ cho một câu trả lời!...

    6./ Đôi dòng kết luận:

    Khi đọc “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh tôi không biết cuộc chiến tranh đó đến từ đâu? Ở đâu trên đất nước Việt Nam một thời đau thương, khói lửa và chết chóc này, nơi nào mà cuộc chiến tranh ấy trong truyện của Bảo Ninh đã xảy ra và những người lính ấy trong truyện của Bảo Ninh đã từng hiện hữu? Nói như vậy không có nghĩa tôi không phải là người Việt Nam, không biết đến lịch sử Việt Nam. Mà với những thế hệ lớn lên sau chiến tranh, hay chưa kịp cảm nhận cái tàn khốc của nó, quá quen tìm hiểu lịch sử về một thời quá khứ oai hùng của dân tộc qua những bài học giáo khoa về lịch sử, qua những tác phẩm văn học như “Người mẹ cầm súng”, “Rừng xà nu”, “Mảnh trăng cuối rừng” … của những tác giả được xem là kinh điển của tiểu thuyết thời chiến tranh, thì không lạ lùng sao được?

    Đôi khi người ta muốn quên đi quá khứ, nhất là những quá khứ đau thương. Ba mươi năm cuộc chiến tranh đã đi qua, có người không biết, có người cũng đã quên hay cố tình quên. Đã quá đủ rồi, cho một thời như thế. Nhưng tự một góc nào đó, quá khứ vẫn sống, vẫn cố giảy giụa trong cái quan tài của nó. Nó vẫn sống và quẫy đạp để nhắc với con người những thảm hoạ mà mảnh đất này phải gánh chịu, dân tộc này phải gánh chịu. Trong tâm khảm của những người lính vẫn chưa có ngày im tiếng súng.

    Họ vẫn chiến đấu để tồn tại trong một thời bình lặng, đau thương và ti tiện …


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Minh Khoa @ 22:01 21/06/2011
    Số lượt xem: 2485
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến