THƯ MỤC CƠ SỞ

TIN TỨC GIÁO DỤC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Tiếng Việt là ngôn ngữ của tất cả chúng ta!

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > BÀI VIẾT CÁ NHÂN >

    DẠY ĐOẠN TRÍCH "TRAO DUYÊN" VÀ VÀI Ý KIẾN VỀ VIỆC: LIỆU DẠY VĂN NHƯ THẾ NÀO?

        0_chi_em_thuy_kieu_jpgTôi thích "Trao Duyên". Bởi vì "Trao Duyên" là một trong vài đoạn trích trong "Truyện Kiều" mà nội dung của nó vẫn còn xác hợp với cuộc sống, vẫn còn mang đậm tính hiện đại. Một đoạn trích khá tiêu biểu cho "Truyện Kiều" ở cả hai phương diện về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật của nó.

        Nhưng ngay cả khi đọc "Truyện Kiều" cũng ít khi người ta nghĩ đến điều này!?

        Người ta sẽ đặt câu hỏi: Tại sao lại có chuyện lạ lùng như vậy? Đọc "Truyện Kiều mà lại không để ý đến những giá trị về nội dung, về nghệ thuật của "Truyện Kiều" sao? Thế ai là người đọc "Truyện Kiều" và đọc để làm gì?

        Ai là người đọc "Truyện Kiều"? Câu trả lời là khá nhiều, nếu như không nói là rất nhiều? Họ bao gồm các nhà nhà nghiên cứu văn học, các chuyên gia "Truyện Kiều", các giáo viên văn, các sinh viên khoa văn và phần còn lại là đông đảo các đối tượng học sinh... và đương nhiên cũng có một vài người, vì một lí do nào đó họ vô tình đọc hoặc đọc lại "Truyện Kiều".

        Thế nhưng họ đọc "Truyện Kiều" là để làm gì? Có lẽ, ngoại trừ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia "Truyện Kiều" là những người đọc "truyện Kiều một cách chuyên nghiệp, ở họ tồn tại ít nhiều một niềm đam mê nào đó; thì còn lại, nghĩa là bao gồm cả học sinh, sinh viên và một phần lớn giáo viên dạy văn, họ là những người buộc phải đọc truyện Kiều.

         Nghe mà buồn! Cũng giống như khi chúng ta hỏi người ta đọc "Truyện Kiều" để làm gì, câu hỏi mà từ lâu, những giáo viên dạy văn chúng ta vẫn thường rất khó hoặc không thể trả lời được đó là: Chúng ta dạy văn để làm gì? Dạy truyện Kiều để làm gì? và có cần thiết dạy môn văn trong nhà trường không? Cần thì chắc là cần rồi. Nhưng cần để làm gì? Cần như thế nào? thì rất khó nói. Đó là câu hỏi mà những giáo viên văn khi đứng lớp còn rất mơ hồ. Mỗi môn học đều có những giá trị thực dụng của nó và môn Văn cũng vậy. Đó chính là cái giá trị cần có để níu kéo học sinh trở về với việc học bộ môn. Nhưng giá trị đó ở môn Văn là gì thì có lẽ đến nay chưa có ai xác định được. Không xác định được quan niệm dạy văn để làm gì thì chúng ta biết dạy văn như thế nào?

        Lâu nay, Các nhà giáo dục vẫn thường xem văn học như một thứ phương tiện để giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống. Đặc biệt là những vấn đề mang tính chính trị như lòng yêu nước, yêu con người, yêu thiên nhiên, cuộc sống... Cái mà chúng ta quen gọi là cái hay cái đẹp. Đó là chưa kể đến những nội dung tích hợp, những vấn đề mang tính khoa học và những giá trị khác mà văn học vốn có như: cách xây dựng chủ đề, kết cấu, hình tượng, ngôn ngữ,...  mà đôi khi chính vì những vấn đề như vậy, chúng ta cứ lầm tưởng: Văn học là sự sáng tạo vô cùng độc đáo, Văn học là hết sức cao quí, là hết sức quan trọng, là bộ môn bao trùm các ngành xã hội, là bộ môn giáo dục toàn diện con người, Văn học là nhân học.... Là cái không thể thiếu được trong quá trình hoàn thiện của mỗi con người. Nhưng xem lại thì liệu có bao nhiêu em học sinh quan tâm đến việc học môn Văn?!

         Rõ ràng, Văn học phải là Văn học. Nghĩa là đừng ôn đồm cho nó nhiều quá những thứ mà nó thực sự không có. Thế thì Văn học có gì?

         Giáo viên văn chúng ta vẫn thường ca ngợi văn học, xác định niềm đam mê nghệ thuật như một thứ á phiện để lôi kéo học sinh về với bộ môn. Nhưng học sinh không phải là người lớn, không có năng lực sáng tác và dùng văn học như một thứ giải tỏa. Thực tế, là đã từ lâu lắm rồi đâu có ai đọc truyện Kiều (kể cả một số tác phẩm trong nhà trường) như một phương tiện giải trí; nghĩa là đọc đúng với thiên hướng nghệ thuật vốn có của nó, của một tác phẩm văn học. Chỉ cần dùng một vài biện pháp khảo sát đơn giản sẽ thấy rằng: các đối tượng này, kể cả một phần lớn các giáo viên dạy Văn, ngày nay cũng không có mấy người đọc cho hết chứ chưa nói là đọc cho rành mạch truyện Kiều. Có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng cái rõ nhất là trong cái thời buổi dạy và học văn là để thi cử này thì ngay cả người học, người dạy đều mang một tâm lí chung là dạy để thi, học là để kiếm điểm. Thế thì, dạy và học làm gì cho quá. Học sinh ngán ngại môn văn đã đành, giáo viên vừa có tỉ lệ bộ môn thấp, mà còn phải đầu tư thời gian và công sức nhiều. Vì vậy, sau khi dạy cụ thể một số đoạn trích "Truyện Kiều" trong sách giáo khoa, người ta bắt đầu tiến hành kiểm tra và chấm điểm tốt cho những bài làm mà học sinh "nhại" lại càng chính xác càng tốt lời giáo viên hay chép từ văn mẫu. Hệ quả là ngoài một vài tiết dạy dự giờ mang tính biểu diễn, giáo viên văn vẫn thường đọc bài cho học sinh chép?!

         Nhưng thôi, chúng ta sẽ không đề cập tiếp tục đến những vấn đề này.

         "Trao Duyên" là một trong những đoạn trích khá tiêu biểu cho toàn bộ nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm "Truyện Kiều". Đoạn trích chỉ gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu 756 - được in trong sách giáo khoa môn Văn lớp 10). là một trong những đoạn gây ngỡ ngàng và xúc động nhất trong "Truyện Kiều". Ngỡ ngàng và xúc động không đơn giản là vì sự tái hiện nỗi thương tâm của Kiều thông qua việc Kiều nhờ cậy Thúy Vân lấy Kim Trọng, thay mình trả nghĩa, hay nỗi đau mất mát của một thiên diễm tình giàu chất thơ hay nỗi đau của một thân phận người, của cô gái nhan sắc đang tuổi vào yêu bị chối bỏ một hạnh phúc riêng tư... Mà còn vì những lẽ khác.

        Thứ nhất, đây là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc và những đau khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt vì có kẻ vu oan, Thúy Kiều đã phải bán mình để lấy tiền cứu cha và em; là cái đêm hôm trước ngày Kiều phải ra đi theo Mã Giám Sinh.

        Thứ hai, Đoạn văn đậm đặc tính người trong một không gian nghệ thuật bao hàm cả một hệ thống các thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, hình tượng. Ở đó Nguyễn Du đã sáng tạo nên một cuộc vừa mang tính đối thoại vừa mang tính độc thoại, gây nên một hiệu ứng thẩm mĩ vô cùng độc đáo; là nơi gặp gở giữa ba tâm hồn đồng cảnh, đang quằn quại vì những lẽ khác biệt của tình đời.

          Đoạn trích không dài, cũng không mang một nội dung to tát. Chỉ vẻn vẹn 34 câu thơ lục bát tái hiện lại cái đêm Kiều nhờ Thúy Vân thay mình lấy Kim Trọng để trả nghĩa, để chấp nối duyên tình mà Kiều bỏ lại. Đoạn trích có lẽ cũng chỉ có vậy, là một cuộc đối thoại khá công khai giữa hai chị em: Kiều là người nói, vân là người nghe. Bởi lẽ, trong cả 34 câu thơ ấy, người ta không thấy, không nghe lời của Thúy Vân thậm chí là cái lắc đầu hay gật đầu? Nhưng trong cái đêm định mệnh ấy, cả hai đều mang gá vào mình một nỗi niềm bất hạnh.

         Đoạn thơ diễn tả một cơn khủng hoảng, một trận sóng gió tơi bời trong lòng của con người tài sắc mà mệnh bạc. Nàng khổ đau, quằn quại đâu phải chỉ vì chính mình mà còn vì người nên nỗi đau càng nhân lên gấp bội. Đoạn văn rất khó thể hiện, nếu không nói Nguyễn Du phải tinh tế và cao tay lắm

         Cao tay ở ngay ở cái tình huống bất ngờ và độc đáo! Tình huống "Trao duyên".

         Trao duyên thì có gì ghê gớm? Không ghê gớm. Cho nên Nguyễn Du cũng khá trầm tỉnh để Kiều thể hiện trọn vẹn vai trò của mình. Cái hành động tỉnh táo cuối cùng trước khi Kiều rơi vào một trạng thái gần như vô thức trong cái ngả rẽ cuộc đời. Kiều trao kỷ vật cho em ''chiếc thoa với bức tờ mây'', chút của làm tin "Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa". Những vật minh chứng cho mối tình Kim Kiều, bây giờ nàng đưa lại, mà Thúy Vân thì cũng đã nhận lời và việc đền ơn Kim Trọng xem như kết thúc? Thế nhưng đâu đã kết thúc!

         Nếu là kết thúc, đâu cần đến 34 câu thơ dài dòng, đắp đổi. Bốn câu đầu đã đủ thỏa thuê cho sự diễn đạt. Thực sự như vậy. Vì ở đó đã hội đủ cho một tình huống trao duyên: người trao gửi, người nhận trao gửi, việc trao gửi và cả dòng tâm sự khi trao gửi của kiều: "giữa đường đứt gánh tư tương tư, keo loan chắp mối tơ thừa mặc em". 

        Nếu là sự kết thúc thì lẽ nào Kiều lại phải dài dòng bày giãi bằng những hành động, lời nói mà bản thân nó đang trong cơn hiện tại đã tạo ra những khủng hoảng nội tâm sâu sắc. Lời nói, hành động của Kiều không chỉ chịu sự chỉ đạo của lý trí mà còn do những cảm nhận về cảnh ngộ cá nhân. Nên những nguồn cơn trong lòng nàng trào dâng không kìm giữ nổi. Dòng chảy của lý trí "Ngày xuân em hãy còn dài, xót tình máu mủ, thay lời nước non" và dòng chảy của tâm trạng "Chị dù thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây".

         Nếu thực sự là một sự kết thúc thì chắc là không có cái cảnh Kiều níu kéo bằng lời dặn lông bông vô nghĩa "Duyên này thì giữ, vật này của chung”.

         Đoạn thơ, câu thơ thật sự không có một từ, một ngữ nào miêu tả nội tâm nhân vật. Chẳng lẽ, Kiều lại có thể hết sức bình tâm khi trao duyên, để kết thúc một thiên diễm tình đẹp như mơ đó chăng? Không phải! Chắc là không phải. Đọc kĩ một chút ta sẽ thấy cái nội tâm dằn vặt đến chết lịm của nàng:

         Thứ nhất, đó chính là những lời lẽ vô nghĩa của nàng khi cầu lụy Thúy Vân. Đọc câu thơ có lẽ người ta sẽ cảm nhận ngay rằng, Kiều đã không ý thức được mình đã nói gì, nói như thế nào? Hay chính là vì, nàng sợ phải nói ra một sự thật đớn đau, mà phải đang tâm lừa dối bản thân bằng một điều không thật, bằng một chút hi vọng dẫu quá mỏng manh: "Dù em nên vợ nên chồng", "Mai sau dù có bao giờ"....

         Thứ hai, đó là một không gian tương lai trong sự mường tượng đến cái chết. Cái chết hiển hiện, lẩn khuất đâu đó "Thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối, hồn còn mang nặng... Ừ! Mà hình như Kiều đã chết thật, hay đã chết thật một nửa con người, cả linh hồn và thể xác trong cái quyết định cứ tưởng như nhẹ thể lông hồng:

    "Giữa đường đứt gánh tương tư

    Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em"

          "Mặc em" ư! Nếu vậy thì Kiều đâu có đau đáu những câu: Ngậm cười chín suối, xót người bạc mệnh, hồn còn mang nặng, dạ đài cách mặt...

         Mạch ngầm đầy dư ba đó biểu hiện sâu sắc cái nhìn cảm thông nhân đạo của Nhà thơ trước bi kịch cuộc đời Kiều. Đồng thời việc khám phá được những rung động tinh vi trong tâm hồn nhân vật. Như thế, chứng tỏ nhà thơ là một kì tài trong việc phân tích nội tâm nhân vật. 

          Tâm trạng đó của Kiều được biểu hiện bằng  những lời nói, hành động trong sự cảm nhận thời gian đồng hiện quá khứ, hiện tại, tương lai. Khi duyên đã trao, tình yêu vĩnh viễn tan vỡ, hạnh phúc trở thành ảo vọng, hiện tại đã trở thành thời điểm phân chia, ngã ba đường của số phận để nhân vật quay nhìn vào quá khứ, soi rọi vào tương lai.  Soi rọi vào tương lai Kiều nhìn thấy hạnh phúc của Thúy Vân khi đã "nên vợ nên chồng" với chàng Kim. để thấy thân phận mình đã trở thành kẻ "mệnh bạc", kẻ bị "mất người" vì thế trong Kiều trào lên niềm tự thương khắc khoải, xót xa. Từ hiện tại cay đắng, hình dung một tương lai bất hạnh khi đối sánh số phận mình với duyên tình của Thuý Vân, Kiều quay về tìm đến với tình yêu bằng kỷ niệm của ngày gặp gỡ hẹn thề, "phím đàn với mảnh hương nguyền”nhưng tất cả đã không còn. Mọi việc đã trở thành quá khứ. Cái ngày xưa đã đẩy lùi cái kỷ niệm êm đềm ngày nào vào quá khứ  xa xôi, vời vợi, mặc dù tình yêu Kim - Kiều vừa mới ''thề hoa chưa ráo chén vàng. Cái ngày nay phút chốc đã là cái ngày xưa cả "phím đàn", cả "lò hương " đêm thề thốt, những gì đẹp nhất, quý giá nhất đã hun hút xa xôi, chìm vào bóng tối. Kiều trở về quá khứ để tưởng tìm được nơi an ủi nhưng kỷ niệm lại là nhát dao cứa mạnh vào tim, đẩy nàng tới sự hoảng loạn, nàng chạy trốn kỷ niệm tìm đến với tương lai.

          Tương lai thật hãi hùng. Nàng nhìn thấy cái chết như một tất yếu, chết vì tàn úa, héo hon, mệnh bạc... chắc là như vậy: linh hồn vật vờ theo lá cây ngọn cỏ trở về mang theo niềm tiếc nuối khắc khoải ''hồn còn mang nặng lời thề " nhưng tình yêu bất diệt của nàng không còn chỗ trong cuộc sống hiện thực. Cũng ''lò hương ấy",''tơ phím này" nhưng người so tơ, đốt lò đâu phải là Kiều! không còn là Kiều, không còn là Kim trọng ... Sự trở về của Kiều chỉ còn niềm hy vọng duy nhất là sự cảm thông "rưới xin chén nước cho người thác oan”.

         Thời gian ở đây không tuân theo qui luật: có sự luân chuyển, đan cài giữa thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai trong một nội tâm luôn chuyển biến. Giọng thơ linh hoạt, hình ảnh thơ chập chờn ma mị, thời điểm không xác định (mai sau, bao giờ) không khí linh thiêng (đốt lò hương, so tơ phím). Tất cả nói lên tâm trạng khổ đau khủng hoảng của nhân vật. Sự đối lập gay gắt giữa ước vọng và hiện thực cuộc sống đã đẩy Kiều rơi vào tột cùng bi kịch, khủng hoảng tâm lý dữ dội và những mâu thuẩn tưởng như giản đơn mà không thể giải quyết.

          Thật vậy, một mặt nàng muốn trao duyên cho Thúy Vân để trả nghĩa chàng Kim, nhưng một mặt nàng không thể dứt nổi mối duyên tình. Cái ngắt ngứ ấy làm nàng đau đớn đến hoảng loạn. Nàng gần như mất hết ý thức về không gian, thời gian mà dịch chuyển theo sự chuyển biến của của một nội tâm dằn vặt. Nó trôi theo một nhịp độ riêng thấm đẫm cảm xúc, tâm trạng.

           Trong sự hoảng loạn khi tình yêu đã mất, mọi cái đều trở nên hư ảo, nửa tỉnh nửa mê như trong một cuộc đối thoại bổng trở thành độc thoại, đối diện với Thúy Vân trở thành sự đối diện với một thực tế phụ phàng:

    Bây giờ trâm gãy gương tan

    Tơ duyên ngắn ngủi, có ngần ấy thôi!

    "Có ngần ấy thôi". Nghe mà đau! Nỗi đau khi tình yêu bị tan vỡ.  Người ngoài cuộc không thể hiểu, nàng Vân không thể chia sẻ. Lúc này, tâm trạng Kiều chìm tới đáy của sự chiêm nghiệm cá nhân, của nỗi đau cuộc đời, nàng ý thức sâu sắc thân phận: 

    Trâm gãy bình tan

    tơ duyên ngắn ngủi

    phận bạc như vôi

    nước chảy hoa trôi

          Lời nói của Kiều có một loạt những thành ngữ diễn tả cái tan vỡ, cái bất hạnh, cái nổi trôi vô định của số phận, Kiều nhắc tới điều đó  bằng sự ý thức về thân phận, về cuộc đời bi kịch của mình, bằng nhận thức sự đối lập gay gắt giữa cái hữu hạn của số phận và cái "muôn vàn" vô hạn của tình yêu, ước vọng. Hiện tại đẩy nàng xuống tận cùng bi kịch, nỗi đau này không thể chia sẻ cùng ai, kể cả nàng Vân  chỉ có chàng Kim là hiểu, chàng là người duy nhất có thể chia sẻ vì thế từ sự tự thương mình Kiều tìm đến chàng Kim và bóng hình chàng Kim xuất hiện trong sự tưởng tượng của Kiều. Đang đối mặt cùng Thuý Vân thế mà Kiều dường như vượt qua cả không gian thời gian để cùng tâm sự với chàng Kim. Lời của nàng giờ đây là những lời than chua xót về thân phận của mình và thân phận của tình yêu, đặc biệt là những lời  tạ lỗi cùng Kim Trọng.

    Trăm nghìn gửi lạy tình quân

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

         Dùng dòng thời gian đặc biệt này, nhà thơ đã mổ xẻ, đã lý giải được một cách sâu sắc, tài tình tâm trạng nhân vật và chân thực nhất những biến đổi tinh vi của tâm hồn Kiều. Ở đó, chính là Nguyễn Du đã đi vào nội tâm nhân vật, đi vào cái cá biệt của cuộc đời, của số phận và từ đó đạt đến sự khái quát cho mọi cuộc đời người.

         Với một kết cấu thời gian khá đặc biệt như vậy, Nguyễn Du đi xa hơn tác phẩm truyện Nôm đương thời và rất gần với lí luận của thi pháp hiện đại. Ông nhìn nội tâm nhân vật không tuyến tính từ phía người viết mà từ phía nhân vật, từ phía những mục đích khát vọng, xu hướng hoạt động của chúng. Nếu so sánh một cách cụ thể với một số truyện thơ nôm đương thờ như “Chinh phụ ngâm khúc”, "Cung oán ngâm khúc” ..., chúng ta cũng thấy ở trong những tác phẩm này có sự xuất hiện của thời gian như “đêm năm canh lần nương vách quế” “đêm năm canh trông ngóng lần lần” rồi “Khuya sớm” rồi “khắc giờ đằng đẵng như niên”… nhưng đó chỉ là yếu tố thời gian mang tính chất tượng trưng, được dùng với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình lấy cái bên ngoài để miêu tả cái bên trong chứ chưa có cái nhìn về thời gian như ở Nguyễn Du, ở Truỵên Kiều. 

          Cái "cao tay", vì vậy ở Truyện Kiều là quá rõ: Từ cái không gian, thời gian, nhân vật, ngôn ngữ... Đều đã được Nguyễn Du xử lí ở mức điêu luyện mà không dễ gì với cái vốn sống mấy mươi năm và một nền học vấn ở góc độ tầm tầm như chúng ta mà dám nói mình hiểu hết. Nhầm!... Tuy nhiên, vẫn phải nói rằng: phần phân tích trên đây, dù có nói gì thì đó cũng là một vài kiến thứckhá cơ bản về truyện Kiều mà ta có thể học, đọc đâu đó trong muôn vàn những điều thú vị mà qua mấy trăm năm tồn tại của nó, người ta đã tìm ra được và cũng đủ cho ta thấy cái âm ba dư vị của một tác phẩm lớn như "Truyện Kiều" mang lại.

           Lại câu hỏi đặt ra là: Liệu giáo viên có thể dạy hết, và học sinh có thể học hết những điều đó, những kiến thức đó hay không? Đó là chưa kể "Trao duyên chỉ là một đoạn trích ngắn chỉ 34 câu trong tổng số 3254 câu thì để có thể hiểu được toàn bộ tác phẩm thử hỏi giáo viên sẽ phải dạy như thế nào? 

           "Văn học là nhân học" ai cũng nói thế. Nghĩa là học văn là học về con người. Cụ thể hơn là học về những khía cạnh bên trong những giá trị con người. Liệu có đúng không? Không biết! Nhưng nói như vậy cũng có nghĩa là: khi dạy văn, người ta không đơn thuần đang dạy một bộ môn nghệ thuật! Nghệ thuật ngôn từ!

         Văn học trước hết là một loại hình nghệ thuật. Nghĩa là dạy văn là dạy cái hay cái đẹp. Điều này không sai. Sau một tác phẩm, một đoạn trích học sinh phải thấy được ít nhất: tác phẩm có nội dung gì, kể về cái gì, viết về cái gì và bằng cách nào. Dạy văn là dạy một quá trình cảm thụ. Nhưng đôi khi chúng ta lại quá quan trọng đến nỗi buộc học sinh phải hiểu tác phẩm một cách sâu sắc bằng cách cho chúng những đề văn tràn tính tư tưởng, những giá trị nội dung, nghệ thuật, kết cấu, thủ pháp... để rồi khi học sinh không thể đạt được đến, chúng ta thẳng tay đàn áp chúng với những con điểm không mấy thiện cảm. Không có thiện cảm làm sao bảo học sinh có thiện cảm với môn văn? 

         Học văn là phải hiểu văn. Nhưng dạy văn không có nghĩa là dạy cho học sinh trở thành một nhà văn. Điều này là không thể. Dù là một nền giáo dục tiên tiến bậc nhất đi chăng nữa, Người ta cũng không thể đào tạo ra nổi một nhà văn trong khi có thể đào tạo ra hàng trăm những nhà khoa học. Như vậy, thay vì phải dạy cho học sinh những hiểu biết sâu sắc, những kiến thức cao siêu, hướng đến những mục tiêu đầy chất lí tưởng, Chúng ta chỉ nên gợi ra cho các em những điều cần đọc, dạy cho chúng biết đọc và muốn đọc để trở thành một công chúng văn học. Nghĩa là chúng chỉ cần có những kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để hướng đến những suy nghĩ, cảm nhận. Những kĩ năng, những cảm nhận mà qua đó chúng có thể tìm và hiểu được những thông điệp nhà văn qua một tác phẩm muốn nói. Còn hiểu như thế nào thì thôi cứ hãy để cho chúng tự hiểu.

         Cám ơn các bạn. Tôi dự định sẽ không hoàn thành bài viết này. Vì ngại những hiểu biết non kém của mình, dù biết là mình chỉ viết chơi cho vui. Nhưng thôi, chúng ta kết thúc bài viết và chỉ bàn nhau đến đây. Chắc chắn tôi sẽ còn trở lại với vấn đề này ở một bài viết khác. Tôi thích nó.

    * Bài viết có sử dụng nhiều tư liệu của bạn bè, đồng nghiệp...


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Minh Khoa @ 12:19 10/08/2014
    Số lượt xem: 6741
    Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Thị Hà Phương)
     
    Gửi ý kiến